Những con số biết nói

Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, ngành Điện đã vươn lên phát triển mạnh mẽ, toàn diện cả về quy mô lẫn tốc độ. Ở tất cả các mảng, từ ngành nghề kinh doanh chính tới các lĩnh vực mở rộng đều đạt được những thành tích rất đáng tự hào. Kết quả thống kê hoạt động dưới đây thực sự là “những con số biết nói”, phần nào phản ánh nỗ lực không mệt mỏi của ngành Điện trong suốt 55 năm qua (trích sách “Điện lực Việt Nam -  Đi lên cùng đất nước”)

* Điện sản xuất

83 tỷ kWh – Là tổng sản lượng điện do EVN sản xuất và mua của các nhà máy điện độc lập ước thực hiện cả năm 2009, tăng 1,1 lần so với năm 2008 (74,226 tỷ kWh), gấp gần 6,7 lần năm 1994 (12,28 tỷ kWh) và gấp 1.566 lần năm 1954 (53 triệu kWh). Con số trên đã phản ánh nỗ lực bền bỉ, mạnh mẽ, cũng như sự cống hiến to lớn của EVN trong suốt 55 năm thực hiện sứ mệnh đáp ứng điện năng cho đất nước. Điều đó càng có ý nghĩa lớn lao hơn khi những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng phụ tải luôn ở mức cao, tình hình sản xuất điện năng của Tập đoàn luôn đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức do chi phí đầu vào tăng cao, thời tiết diễn biến bất lợi, phải chịu bù lỗ lớn để huy động nhiều nguồn đắt đỏ… Vượt qua tất cả những khó khăn đó, EVN luôn cơ bản đảm bảo điện năng cho phát triển kinh tế đất nước và đời sống thiết yếu của nhân dân. 

* Điện thương phẩm

15% - Là mức tăng trưởng điện thương phẩm bình quân thời kỳ 1995 - 2009 của EVN. Riêng năm 2002, mức tăng trưởng đạt kỷ lục 17,1%. Đến hết năm 2009, Tập đoàn ước tính cung ứng 73 tỷ kWh điện thương phẩm, tăng 2,4 lần so với năm 2002. Để đảm bảo mức tăng trưởng này, những năm qua, EVN đã tập trung tối đa các nguồn lực, đặc biệt là huy động các nguồn vốn khác nhau ở trong và ngoài nước, đảm bảo đầu tư liên tục cho phát triển nguồn và lưới.

* Tiêu thụ điện năng

870 kWh – Là mức điện năng tiêu thụ bình quân đầu người trong một năm của Việt Nam hiện nay. Mặc dù so với các nước trong khu vực, mức tiêu thụ điện năng bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp, tuy nhiên, so với các thời kỳ trước ở nước ta thì để đạt được kết quả nêu trên là sự cố gắng phấn đấu không mệt mỏi của tập thể CBCNV ngành Điện, đồng thời cho thấy nền kinh tế đất nước và mức sống của người dân đã có những bước tiến lớn trong suốt những năm qua.

* Doanh thu sản xuất kinh doanh

67.562 tỷ đồng - Là tổng doanh thu của EVN năm 2008, tăng 818% so với năm 1995 (8.259 tỷ đồng). Năm 2008, trong bối cảnh kinh tế thế giới khủng hoảng nghiêm trọng, lạm phát trong nước diễn biến phức tạp, chi phí đầu vào, giá thành điện do EVN sản xuất và mua ngoài tăng cao, thì con số tăng trưởng doanh thu sản xuất điện nêu trên cùng với việc đảm bảo cân bằng tài chính và nộp ngân sách nhà nước đạt 3.409 tỷ đồng (tăng 279% so với năm 1995) đã phản ánh nỗ lực rất lớn và có hiệu quả của EVN, đóng góp tích cực thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ và góp phần đưa tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6,23%. 

* Hệ thống nguồn

19.378 MW - Là tổng công suất đặt trên toàn quốc ước tính đến hết 2009. Trong đó, các nhà máy EVN và các nhà máy EVN đã cổ phần hóa là 13.499 MW (chiếm 69,66%), các nguồn ngoài là 5.879 MW (chiếm 30,34%). Tổng công suất khả dụng toàn hệ thống tương ứng đạt 18.778 MW, tăng 6,7 lần so với năm 1995 (2.800 MW), tăng 600 lần so với khi mới tiếp quản Thủ đô năm 1954 (31,5 MW). Có thể thấy, sự gia tăng liên tục của tổng công suất nguồn trong 10 năm trở lại đây mà EVN luôn giữ vai trò chi phối đã chứng tỏ năng lực và sự cố gắng hết mình của Tập đoàn trong công tác đầu tư xây dựng. Từ năm 1995 đến nay, EVN đã đưa vào vận hành gần 30 nhà máy điện, kịp thời cung ứng đủ điện cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

22.748 MW – Là tổng công suất tương ứng với 48 dự án do EVN đầu tư và góp vốn theo Quy hoạch điện VI và các văn bản của Chính phủ trong giai đoạn 2006 - 2015. Theo đánh giá của EVN, các dự án nguồn điện do EVN làm chủ đầu tư theo Quy hoạch điện VI sẽ cơ bản hoàn thành vào năm 2012, đáp ứng tiến độ đặt ra. Như vậy, đến năm 2015,  dự kiến tổng công suất nguồn điện do EVN sở hữu vẫn chiếm trên 50% tổng công suất đặt toàn hệ thống. EVN vẫn đang và sẽ tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư và đảm bảo điện cho phát triển kinh tế xã hội đất nước.

* Vốn đầu tư

6.400 tỷ đồng –  Là nguồn vốn EVN thu được từ cổ phần hóa. Đến nay, EVN đã hoàn thành cổ phần hóa hàng chục đơn vị trong ngành. Năm 2005 là năm ngành Điện có số lượng đơn vị cổ phần hóa cao nhất và tài sản doanh nghiệp cũng có giá trị lớn nhất trong cả nước. Trong đó, Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại với số vốn lớn nhất 3.107 tỷ đồng, có số lượng cổ phần được đưa ra đấu giá lớn nhất với trên 60 triệu cổ phần và 3.400 cổ đông tham gia.

 Lượng vốn thu được từ cổ phần hóa đã góp phần thiết thực giảm cơn “khát” vốn của EVN, được sử dụng để đầu tư phát triển các dự án điện.

215.495 tỷ đồng – Là tổng lượng vốn đầu tư mới trong 10 năm (từ năm 2000 – 2009), bình quân mỗi năm EVN đầu tư 21.549 tỷ đồng. Để có khối lượng vốn đầu tư lớn như vậy, EVN đã vượt qua nhiều khó khăn, tích cực tìm kiếm, huy động bằng nhiều hình thức khác nhau ở trong nước và quốc tế. Nhờ vậy, nhiều công trình điện đã được xây dựng và vận hành đúng thời điểm, đáp ứng kịp thời nhu cầu điện năng cho phát triển đất nước.

647.038 tỷ đồng – Là tổng nhu cầu vốn đầu tư dự kiến cho xây dựng và trả nợ vốn vay của EVN giai đoạn 2009 - 2015. Trong đó, nguồn vốn có khả năng cân đối được là 264.108 tỷ đồng, vốn còn thiếu là 382.931 tỷ đồng. Đây là một thách thức to lớn, Tập đoàn đang và sẽ quyết tâm nỗ lực vượt bậc nhằm đảm bảo đủ vốn cho đầu tư phát triển cũng như tiếp tục khẳng định vai trò chủ lực về cung cấp điện cho nền kinh tế quốc dân.

* Truyền tải

306.000 km và 89.600 MVA – Là tổng chiều dài đường dây và dung lượng trạm biến áp ở các cấp điện áp của EVN tính đến hết năm 2008. Lưới điện quốc gia không ngừng mở rộng, vươn xa thể hiện quy mô phát triển, sự lớn mạnh của ngành kinh tế mũi nhọn, đảm bảo cung ứng điện ngày càng tin cậy, hiệu quả hơn cho phát triển đất nước. Trong giai đoạn 2006 – 2015, EVN dự kiến phát triển mới: Lưới 500 kV là 13.200 MVA và 3.178 km đường dây; lưới 220 kV đầu tư 39.063 MVA và 9.592 km đường dây; lưới 110 kV đầu tư 41.315 MVA và 12.659 km đường dây.

148 tỷ kWh – Là tổng sản lượng điện truyền tải ra Bắc, vào Nam của đường dây siêu cao áp 500 kV Bắc-Nam (mạch 1) trong 15 năm vận hành (từ 27/5/1994 - 27/5/2009). Đây là công trình có thời gian hoàn thành xây dựng rất ngắn, chỉ trong vòng 2 năm (từ 1992 – 1994). Đồng thời, chỉ sau 1 năm đóng điện, công trình được quyết toán xong và sau 3 năm vận hành, công trình đã hoàn vốn đầu tư. Đường dây 500 kV mạch 1 đã tạo tiền đề cho sự ra đời của đường dây 500 kV mạch 2 (năm 2005). 2 mạch đường dây 500 kV đã tạo thành “trục xương sống” song song nối liền hệ thống điện cả nước, góp phần nâng cao độ an toàn, tin cậy, liên tục trong cung ứng điện cho đất nước. Sau 15 năm vận hành, độ an toàn và hiệu quả mang lại của đường dây siêu cao áp không chỉ minh chứng cho năng lực, trình độ của đội ngũ tư vấn, thiết kế, quản lý, vận hành hệ thống điện mà còn khẳng định tính đúng đắn, sáng suốt của chủ trương xây dựng tuyến đường dây 500 kV Bắc-Nam.

* Điện nông thôn

97,32% - Là tổng số xã trong cả nước đã có điện lưới quốc gia tính đến hết tháng 6/2009. Nếu như năm 2001, cả nước mới có 84,9% số xã và 77,5% số hộ có điện lưới quốc gia thì đến nay đã tăng lên 97,32% số xã và 94,67% số hộ dân nông thôn. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là nước thực hiện rất có hiệu quả chương trình điện khí hóa nông thôn, tỷ lệ số hộ dân nông thôn có điện cao hơn hẳn so với một số nước trong khu vực. Kết quả này là sự cố gắng bền bỉ và là một đóng góp to lớn của EVN trong sự nghiệp điện khí hóa nông thôn, góp phần quan trọng xóa đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.

5.600  – Là tổng số xã nằm trong chương trình tiếp nhận lưới điện hạ áp (LĐHA )và bán điện trực tiếp tới 7,4 triệu hộ dân nông thôn của EVN theo Nghị quyết của Hội đồng quản trị, bắt đầu triển khai từ tháng 6/2008 và dự kiến hoàn thành toàn bộ chương trình vào tháng 6/2010. Với chủ trương thiết thực này, EVN sẽ giúp người dân nông thôn được sử dụng điện theo đúng giá quy định của Chính phủ, được hưởng các chế độ chăm sóc khách hàng của ngành Điện thay vì phải mua điện với giá cao, chất lượng không bảo đảm của các tổ chức kinh doanh điện nông thôn. Tính đến cuối tháng 9/2009, các công ty điện lực trên cả nước đã bán điện trực tiếp tới khách hàng tại 6.364 xã (bằng 72% tổng số xã có điện) và gần 8,83 triệu số hộ nông thôn (bằng 65% tổng số hộ có điện).

* Tổn thất điện năng

9,21% - Là tỷ lệ tổn thất điện năng năm 2008. Lần đầu tiên sau nhiều nỗ lực triển khai các giải pháp, EVN đã hạ được tỷ lệ TTĐN xuống còn 1 con số, giảm 1,35% so với năm 2007. Tính bình quân từ năm 1995 đến nay, EVN giảm tỷ lệ TTĐN được 0,93%/năm, trung bình làm lợi 200 tỷ đồng mỗi năm. Đây là một trong những thành tích nổi bật của EVN trong thời kỳ đổi mới. Hiện nay, EVN đang tiếp nhận toàn bộ lưới điện hạ áp nông thôn và bán điện trực tiếp, phần tổn thất khu vực này rất lớn. Nếu tiếp tục đầu tư để giảm tiếp tổn thất điện năng thì vốn đầu tư sẽ lớn hơn nhiều so với số tiền tiết kiệm được. Vì vậy, để đảm bảo giữ mức tổn thất ở 1 con số, cần tiếp tục có đề án lâu dài và đồng bộ về giảm tổn thất điện năng.

* Kinh doanh đa ngành

51,1% - Là mức độ tăng trưởng đánh dấu bước phát triển vượt bậc của ngành Cơ khí điện lực năm 2008. Trong năm này, các đơn vị cơ khí EVN đã cung cấp 10.530 tấn kết cấu thuỷ công, trong đó có 2.000 tấn thiết bị đường ống cho công trình trọng điểm quốc gia Thuỷ điện Sơn La. Doanh thu lĩnh vực cơ khí đạt 1.700 tỷ đồng. Đến nay, các doanh nghiệp, đơn vị cơ khí trong Tập đoàn đã đủ khả năng sản xuất trên dây chuyền công nghiệp các chủng loại máy biến áp đến cấp điện áp 220 kV có công suất đến 250 MVA và tự sửa chữa máy biến áp 500 kV.

4,2 triệu – Là tổng số lượng khách hàng của EVNTelecom tính đến cuối tháng 10/2009. Trong đó, CDMA đạt trên 4 triệu khách hàng, E-Tel đạt trên 16.000 khách hàng, E-Net đạt trên 93.300 khách hàng. Đến nay, EVNTelecom đã cung cấp đầy đủ các loại hình dịch vụ viễn thông công cộng, có một trong những hệ thống cáp quang mạnh nhất, dài trên 40.000 km đến tất cả 63 tỉnh, thành trên cả nước: Hệ thống cáp quang biển Liên Á với dung lượng 50 Gbps; Hệ thống truyền dẫn quang Bắc - Nam với dung lượng 50 Gbps. Công tác đầu tư hạ tầng mạng 3G được đẩy mạnh với tổng số NodeB cần xây dựng là trên 7.000 vị trí, giai đoạn đầu thực hiện xây dựng 2.500 vị trí. Mục tiêu của EVNTelecom là đạt 20% thị phần viễn thông Việt Nam vào năm 2010. Cùng với sản xuất điện năng và cơ khí điện lực, viễn thông công cộng là lĩnh vực kinh doanh chính của EVN, góp phần quan trọng tăng doanh thu cho Tập đoàn, đảm bảo một phần vốn đầu tư phát triển các dự án điện đáp ứng nhu cầu điện năng đất nước.

* Tiết kiệm điện

400 MW – Là tổng công suất phụ tải đỉnh tiết giảm được trên hệ thống điện quốc gia trong giờ cao điểm nhờ triển khai quyết liệt các giải pháp tiết kiệm điện từ năm 2005 tới nay như: Tuyên truyền, khuyến khích dùng điện vào giờ thấp điểm, lắp đặt công tơ nhiều giá, thay bóng đèn sợi đốt bằng đèn compact… Mức cắt giảm công suất trên tương đương với việc không phải xây dựng nhà máy điện mới có công suất bằng nhà máy điện Trị An hoặc Phả Lại 1, ứng với số vốn đầu tư trên 400 triệu USD. Mặt khác, nhờ các chương trình tiết kiệm điện, hằng năm, EVN tiết kiệm được gần 1% tổng điện năng thương phẩm, riêng năm 2008 tiết kiệm 1 tỷ kWh, làm lợi 800 tỷ đồng.

* Đào tạo nhân lực

100.568 người  – Là tổng số lao động dự kiến của EVN đến năm 2015. Trong đó, sau đại học 2,5%; đại học 33%; cao đẳng và trung học 24%; công nhân kỹ thuật 36,5%; lao động khác 4%. Với phương châm “coi đội ngũ CBCNV là nguồn tài sản quý, là nguồn lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy Tập đoàn phát triển”, EVN đã và đang quyết tâm triển khai Kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2008 – 2010, đến năm 2015 với kinh phí dự kiến là 900 tỷ đồng. Nhằm mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, phấn đấu trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh, bền vững, đảm bảo điện đi trước một bước và luôn giữ vai trò chủ lực trong nền kinh tế.

* Danh hiệu tiêu biểu

38 -  Là tổng số đơn vị, cá nhân toàn ngành Điện được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động qua các thời kỳ. Trong đó, 10 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, 2 đơn vị Anh hùng Lao động thời kỳ chống Mỹ, 11 đơn vị Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới; 9 cá nhân đạt danh hiệu Anh hùng Lao động giai đoạn từ năm 1962 đến năm 1985, 6 Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.

79 Huân chương Độc lập các hạng

1.158 Huân chương Lao động các hạng cho các  tập thể và cá nhân của Tập đoàn

Bảng vàng thành tích trên là sự ghi nhận xứng đáng của Đảng và Nhà nước đối với người lao động ngành Điện, là truyền thống lịch sử vẻ vang được viết nên bằng mồ hôi, máu và nước mắt của những tập thể, cá nhân  qua các thời kỳ. Tin rằng, Bảng vàng ngành Điện sẽ tiếp tục được các thế hệ CBCNV hôm nay và mai sau viết tiếp với nhiều thành tích rực rỡ hơn.


  • 18/08/2011 03:06
  • EVN EIC