Tài liệu sinh hoạt chuyên đề số 9: Giữ vững vai trò trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; cung ứng điện an toàn, ổn định cho nền kinh tế và đời sống nhân dân

15/05/2026 - 15:26 (GMT+7)

Ban Tuyên giáo - Đảng ủy Tập đoàn Điện lực Việt Nam đăng tải Tài liệu sinh hoạt chuyên đề theo Công văn số 646-CV/ĐU ngày 15/5/2026 của Đảng ủy Tập đoàn.

I. Ý NGHĨA VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA CHUYÊN ĐỀ

Đảng, Quốc hội, Chính phủ luôn quan tâm, chú trọng phát triển ngành Điện lực, chủ trương phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới, thực hiện hai mục tiêu 100 năm của đất nước. Trong đó:

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với những chủ trương, chính sách đồng bộ, đột phá để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, để năng lượng phải đi trước một bước đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh, nâng cao đời sống nhân dân; đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời gian tới, nhất là thực hiện 2 mục tiêu chiến lược của nước ta đến năm 2030 và năm 2045.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam, với vai trò là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, được Đảng, Chính phủ giao nhiệm vụ chính trị chịu trách nhiệm chính trong việc đảm bảo đáp ứng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước, từng bước phát triển EVN thành Tập đoàn kinh tế vững mạnh, giữ vai trò chủ đạo trong ngành Điện Việt Nam.

II. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG GIAI ĐOẠN 2021-2025

Giai đoạn 5 năm 2021-2025, được sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ ngành, cùng với sự cố gắng và quyết tâm của tập thể Lãnh đạo và sự đoàn kết, nỗ lực của toàn thể CBCNV, Tập đoàn đã đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động SXKD và ĐTPT. Các kết quả chính đạt được trong giai đoạn 2021-2025 như sau:

1. Về sản xuất và cung ứng điện

Giai đoạn 2021-2025, EVN đã cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đời sống nhân dân.

a. Công suất nguồn điện trên HTĐ quốc gia

Đến cuối năm 2025, tổng công suất nguồn điện toàn hệ thống (có bao gồm công suất nhập khẩu điện) đạt 87.600MW, tăng 2 lần so với năm 2015 (38.900MW), trong đó nguồn điện thuộc sở hữu của EVN và các đơn vị thành viên là 32.298MW, chiếm 36,8%; quy mô công suất lắp đặt hệ thống điện Việt Nam đứng thứ 2 khu vực ASEAN (sau Indonesia).

b. Sản lượng điện sản xuất

- Điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống: Tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống giai đoạn 5 năm 2021-2025 đạt 1.436,05 tỷ kWh, tăng trưởng bình quân 2021-2025 đạt 5,51%/năm (giai đoạn 2021-2023 là 4,36%/năm) thấp hơn mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2015-2020 (9,18%/năm).

- Điện sản xuất và mua của EVN: Trong giai đoạn 5 năm 2021-2025 ước đạt 1.389,26 tỷ kWh, tăng trưởng bình quân 2021-2025 ước đạt 5,46%/năm (riêng giai đoạn 2021-2023 là 4,44%/năm) thấp hơn mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 (8,86%/năm) và thấp hơn mức tăng trưởng bình quân kế hoạch được giao trong Quyết định 345/QĐ-TTg (6,59%/năm).

- Sản lượng điện thương phẩm năm 2025 đạt 287,5 tỷ kWh, tăng 4,16% so năm 2024. Tính chung, cả giai đoạn 2021-2025, tăng trưởng điện thương phẩm bình quân đạt 5,8%/năm. Sản lượng điện thương phẩm bình quân trên đầu người của Việt Nam năm 2025 đạt 2.810 kWh/người, gấp 1,26 lần so với năm 2020.

2. Kết quả thực hiện đầu tư xây dựng các công trình điện

EVN đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đầu tư các dự án nguồn và lưới điện được giao trong kế hoạch 5 năm 2021-2025 đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 345/QĐ-TTg ngày 26/4/2024, đảm bảo cung ứng đủ điện cho phát triển KT-XH của đất nước, HTĐ được vận hành an toàn, ổn định. Trong đó giải ngân vốn đầu tư ước đạt 492.483 tỷ đồng, bằng 102,83% KH, đặc biệt các năm 2024, 2025 giá trị giải ngân cao, đứng đầu trong khối doanh nghiệp nhà nước.

a. Nguồn điện

Trong giai đoạn 2021-2025, EVN đã hoàn thành mục tiêu khởi công 7 dự án nguồn điện và hoàn thành 04 dự án nguồn điện theo Kế hoạch 5 năm được giao; Các Tổng công ty Phát điện đã khởi công 03 dự án nguồn điện và hoàn thành phát điện 02 dự án. Cụ thể:

- Các dự án nguồn điện hoàn thành trong giai đoạn 2021-2025

+ Công ty Mẹ EVN hoàn thành đưa vào vận hành 04/04 dự án nguồn điện với tổng công suất 840 MW và 150MWp điện mặt trời đạt 100% kế hoạch TTCP giao, gồm: NMTĐ Ialy MR (360MW); NMTĐ Hoà Bình MR (480MW) và 02 dự án ĐMT Phước Thái 2 (100MWp), Phước Thái 3 (50MWp).

+ Các Tổng công ty Phát điện đã hoàn thành đưa vào vận hành 02 dự án nguồn điện với tổng công suất 300MW, bao gồm: EVNGENCO3/VSH hoàn thành phát điện NMTĐ Thượng Kon Tum (220MW); EVNGENCO1/DHD hoàn thành phát điện NMTĐ Đa Nhim MR (80MW).

- Các dự án nguồn điện khởi công giai đoạn 2021-2025

+ Công ty Mẹ EVN đã khởi công 07/07 dự án nguồn điện với tổng công suất 3.643 MW và 150 MWp, gồm: Năm 2021: Khởi công 03 dự án/2.243MW: TĐ Hòa Bình MR (480MW), TĐ Ialy MR (360MW) và NĐ Quảng Trạch I (2x701,5 MW); Năm 2023: Khởi công 02 dự án ĐMT Phước Thái 2 (100MWp), Phước Thái 3 (50MWp); Năm 2025: Khởi công 02 dự án/1.400MW: TĐ Trị An MR (200MW), TĐTN Bác Ái (1.200 MW).

+ Ngoài ra, EVNGENCO2-CTCP đã khởi công 03 dự án nguồn điện/715MW, bao gồm: Dự án chuyển đổi nhiên liệu NMNĐ Ô Môn I sử dụng khí Lô B (660MW); Các NMĐG Hướng Phùng 1 (30MW), Công Hải 1 – GĐ2 (25MW).

b. Lưới điện

Giai đoạn 2021-2025, EVN và các đơn vị đã hoàn thành 955 dự án lưới điện 110-500kV (gồm 52 dự án 500kV, 157 dự án 220kV và 746 dự án 110kV) với quy mô thực hiện lưới điện 500-220kV là 9.076km đường dây và 59.175MVA trạm biến áp; lưới điện 110kV là 7.736km đường dây và 29.378MVA trạm biến áp.

Trong đó đã đưa vào vận hành nhiều dự án quan trọng để nâng cao năng lực hệ thống lưới điện truyền tải, phân phối đảm bảo yêu cầu đấu nối, giải tỏa công suất các nguồn điện cũng như đáp ứng yêu cầu cung cấp điện cho phát triển kinh tế xã hội đất nước.

c. Đầu tư cấp điện nông thôn, miền núi, hải đảo

EVN và các đơn vị tích cực trong công tác đầu tư cấp điện nông thôn, miền núi, hải đảo nhằm tạo động lực xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biển đảo của Tổ quốc với tổng giá trị đầu tư 5 năm 2021-2025 gần 60.000 tỷ đồng. Tính đến cuối năm 2025, số xã có điện trên cả nước đạt 100% và số hộ dân được sử dụng điện đạt 99,86%, trong đó số hộ dân nông thôn có điện đạt 99,77%.

III. TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ GIỮ VỮNG VAI TRÒ TRỤ CỘT ĐẢM BẢO AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA TRONG CÁC NĂM TỚI

1. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng Tập đoàn Điện lực Việt Nam trở thành Tập đoàn kinh tế mạnh, có nền quản trị hiện đại, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước.

Giữ vững vai trò trụ cột đảm bảo an ninh cung ứng điện và an ninh năng lượng quốc gia. Thực hiện các công trình lớn, mang tính xoay chuyển đối với ngành năng lượng của đất nước. Thực hiện chuyển đổi xanh, bền vững.

Trở thành Tập đoàn có công nghệ hiện đại, chuyển đổi số toàn diện, cung cấp dịch vụ điện cho khách hàng với chất lượng ngày càng cao, lấy sự hài lòng của khách hàng làm trọng tâm.

Các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, độ tin cậy cung cấp điện, chỉ số tiếp cận điện năng nằm trong tốp 3 ASEAN.

2. Mục tiêu cụ thể

- Phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Tập đoàn đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với mức tăng trưởng kinh tế hai con số. Dự kiến điện thương phẩm toàn quốc năm 2030 theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đạt 500,4 - 557,8 tỷ kWh, tương ứng tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm từ 10,3-12,5%/năm.

- Đến năm 2030, độ tin cậy cung cấp điện, chỉ số tiếp cận điện năng thuộc tốp 3 nước dẫn đầu ASEAN. Hệ thống điện thông minh, hiệu quả, có khả năng kết nối an toàn với lưới điện khu vực; bảo đảm cung cấp điện an toàn, đáp ứng tiêu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng

- Tăng tốc đầu tư các dự án nguồn và lưới điện được giao trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, trong đó:

+ Về nguồn điện: EVN và các đơn vị thành viên hoàn thành 12 dự án nguồn điện với tổng công suất 5.160MW (gồm: NĐ Quảng Trạch I, LNG Quảng Trạch II, TĐ tích năng Bắc Ái, TĐ Trị An MR, TĐ Bản Chát MR, TĐ Tuyên Quang MR; Sê San 3 MR; Sê San 4 MR, TĐ Đa Nhim MR giai đoạn 2, TĐ Quảng Trị MR, TĐ Srepok 3 MR, TĐ Buôn Kuốp MR). Dự án LNG Quảng Trạch III: phấn đấu khởi công năm 2026, hoàn thành năm 2030. Triển khai nhanh các dự án nguồn điện mới được phê duyệt bổ sung trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh; Tập trung nguồn lực để triển khai dự án NMĐ hạt nhân Ninh Thuận 1; Cải tạo, nâng cấp, chuyển đổi nhiên liệu, giảm phát thải các nhà máy nhiệt điện hiện có. Đẩy nhanh đầu tư các nhà máy thủy điện tích năng, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời nổi theo quy hoạch, các nguồn điện linh hoạt, các hệ thống lưu trữ năng lượng. Quyết liệt thực hiện các giải pháp chuyển đổi xanh và bền vững ngành điện theo lộ trình được Chính phủ phê duyệt.

+ Về lưới điện: Tập trung cao độ để triển khai đầu tư mới các dự án lưới điện trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đảm bảo đồng bộ tiến độ đưa vào vận hành các nguồn điện; Tăng cường liên kết nhập khẩu điện từ các nước trong khu vực; Tăng cường năng lực truyền tải liên vùng, liên miền. Tiếp tục đầu tư xây dựng các đường dây 500 kV, 220 kV và các trạm biến áp để bảo đảm khả năng truyền tải điện từ các trung tâm sản xuất điện đến các trung tâm phụ tải và kết nối liên thông với các nước ASEAN, nhất là Campuchia, Lào, ... góp phần kết nối 3 nền kinh tế. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hệ thống truyền tải ven biển. Xây dựng lưới điện thông minh, lưới điện số, giám sát và điều khiển thời gian thực, đủ khả năng tích hợp tỷ trọng cao các nguồn năng lượng tái tạo.

+ Thực hiện đầu tư hàng năm tối thiểu 120.000 tỷ đồng.

- Giảm tỷ lệ điện dùng cho truyền tải và phân phối đến năm 2030 xuống 5,8%.

- Đến năm 2030 trở thành doanh nghiệp số toàn diện.

- Năng suất lao động tăng bình quân 8%/năm.

- Sản xuất kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước. Triển khai quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp tiết kiệm chi phí, chống lãng phí trong tất cả các lĩnh vực, lợi nhuận sản xuất kinh doanh hàng năm đạt tối thiểu 3%.

- Nộp ngân sách hàng năm từ 23.000 - 24.000 tỷ đồng.

IV. GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH CUNG ỨNG ĐIỆN

Để giữ vững vai trò trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; cung ứng điện an toàn, ổn định cho nền kinh tế và đời sống nhân dân, Tập đoàn sẽ tập trung triển khai các nhóm giải pháp như sau:

a. Giải pháp về tiết kiệm điện và điều chỉnh phụ tải điện

- Đẩy mạnh công tác tiết kiệm điện và điều chỉnh phụ tải điện theo Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ, theo đó phấn đấu tiết kiệm điện tối thiểu 3,0% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm 2026. Đây là giải pháp cốt lõi và căn cơ để góp phần đảm bảo an ninh cung ứng điện trong thời gian tới, cần sự quyết tâm, nỗ lực của các Bộ, ngành, UBND các địa phương và các khách hàng sử dụng điện.

- Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với NSMO trong công tác quản lý nhu cầu phụ tải, tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp tiết kiệm điện, sử dụng năng lượng hiệu quả, chuyển dịch phụ tải và chuẩn bị các phương án điều chỉnh phụ tải điện.

- Nâng cao hiệu quả công tác dự báo và quản lý nhu cầu điện; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong dự báo phụ tải điện. Phối hợp với khách hàng sử dụng điện thực hiện chương trình điều chỉnh phụ tải điện trong trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo khả năng cung cấp điện của HTĐ quốc gia.

- Tiếp tục thúc đẩy phát triển nguồn điện tự sản, tự tiêu thụ, đặc biệt các nguồn điện mặt trời mái nhà; khuyến khích lắp đặt kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng nhằm giảm phụ tải giờ cao điểm và tăng khả năng tự chủ nguồn điện tại chỗ; Đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) giữa khách hàng sử dụng điện và các dự án điện tái tạo.

 b. Giải pháp về vận hành của các Tổng công ty Phát điện, các Đơn vị phát điện trực thuộc

- Tăng cường công tác theo dõi, giám sát chặt chẽ tình trạng vận hành thiết bị của nhà máy, chủ động tiến hành kiểm tra định kỳ, kịp thời phát hiện và khắc phục triệt để các khiếm khuyết, bảo đảm đầy đủ vật tư dự phòng để nâng cao độ tin cậy, tăng cường hiệu quả vận hành và khả năng phát điện của các tổ máy, tuyệt đối bảo đảm không để xảy ra sự cố do nguyên nhân chủ quan.

- Chủ động nghiên cứu, rà soát và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh liên quan đến việc đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn về phát thải khí thải và nước thải trong quá trình vận hành, bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về môi trường và không làm ảnh hưởng đến việc huy động, vận hành các nhà máy điện.

- Thực hiện nghiêm túc kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa đã được phê duyệt, hạn chế tối đa việc điều chỉnh kéo dài, phát sinh sửa chữa ngoài kế hoạch trong giai đoạn cao điểm gây ảnh hưởng đến an ninh cung ứng điện.

- Các đơn vị quản lý vận hành hồ chứa của các nhà máy thủy điện chủ động, thường xuyên cập nhật, đánh giá sát tình hình thủy văn thực tế; tăng cường phối hợp chặt chẽ, trao đổi thông tin thường xuyên với chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan để thực hiện việc vận hành hồ chứa linh hoạt, hiệu quả, bảo đảm cân đối hài hòa giữa nhu cầu sử dụng nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và sản xuất điện, đặc biệt trong giai đoạn cao điểm mùa khô và các đợt nắng nóng.

- Đảm bảo nguồn nhiên liệu cho phát điện

+ Tiếp tục triển khai theo các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tập trung theo dõi cung ứng than, khí và phối hợp hiệu quả với TKV, TCT Đông Bắc và PVGas để đảm bảo đủ nhiên liệu (than, khí) cho sản xuất điện theo nhu cầu hệ thống. Chuẩn bị các phương án dự phòng nhiên liệu cho sản xuất điện.

+ Phối hợp chặt chẽ với PVN/PVGAS để tìm kiếm các nguồn khí bổ sung,
bao gồm khí LNG nhập khẩu, nhằm đáp ứng nhu cầu trong bối cảnh các mỏ khí thiên nhiên đang suy giảm.

c. Giải pháp bổ sung nguồn điện và tăng cường năng lực truyền tải

Tập đoàn và các đơn vị thành viên tiếp tục đẩy mạnh triển khai đầu tư các công trình sau:

- Tập trung triển khai đầu tư các dự án nguồn điện trọng điểm chạy nền như: Quảng Trạch I (1.403MW, năm 2026), Quảng Trạch II (1.500MW, 2028-2029), thuỷ điện tích năng Bác Ái, các dự án thuỷ điện mở rộng. Đồng thời, Tập đoàn cũng phấn đấu đẩy sớm tiến độ 1-2 năm để đưa dự án Quảng Trạch III (1.500MW) vào vận hành năm 2030-2031; lắp đặt pin lưu trữ (BESS) với tổng công suất khoảng 2.000MW, năm 2026 đưa vào vận hành 465MW ở miền Bắc.

- Bảo đảm tiến độ đối với các công trình lưới điện quan trọng bao gồm: (i) Các công trình lưới điện đồng bộ với các dự án nguồn điện; (ii) Các công trình nâng cao năng lực hệ thống điện Bắc – Trung – Nam; (iii) Các công trình phục vụ tăng cường nhập khẩu điện từ Lào và Trung Quốc; (iv) Các công trình giải tỏa nguồn thủy điện và NLTT; (v) Các công trình cấp điện cho các trung tâm phụ tải lớn TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các vùng kinh tế trọng điểm.

- Chủ động phối hợp với chính quyền các địa phương tập trung chỉ đạo xử lý dứt điểm các khó khăn vướng mắc trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đối với các dự án lưới điện trọng điểm.

- Phối hợp, tích cực làm việc, đàm phán với các đối tác để nghiên cứu phương án tăng thêm nhập khẩu điện, đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện, lưới điện để tăng thêm nhập khẩu từ Lào, Trung Quốc, góp phần bổ sung nguồn cung cho hệ thống trong giai đoạn tới, đặc biệt về khu vực miền Bắc.

- Chỉ đạo các đơn vị thành viên liên quan chủ động, tích cực thoả thuận, ký kết các hợp đồng mua bán điện, thỏa thuận đấu nối và các danh mục hồ sơ/tài liệu khác có liên quan với Chủ đầu tư các dự án nguồn điện để bảo đảm các dự án đưa vào vận hành đúng tiến độ theo quy hoạch, kế hoạch được duyệt.

V. TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG, CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG TOÀN TẬP ĐOÀN

1. Cấp ủy các tổ chức đảng trực thuộc, Ban Chấp hành Công đoàn Điện lực Việt Nam, Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên EVN quán triệt nhiệm vụ cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế xã hội và sinh hoạt của người dân trong giai đoạn 2026 – 2030, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất, huy động mọi nguồn lực thúc đẩy, hoàn thành, đảm bảo tiến độ, chất lượng các công trình, dự án nguồn điện, lưới điện.

2. Bí thư, các cấp ủy các đơn vị tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm của cá nhân và tập thể, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, thực hiện dứt khoát, quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp được giao tại các Chỉ thị, Công điện, các văn bản chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Tập đoàn về việc bảo đảm cung ứng điện trong năm 2026 và giai đoạn 2027-2030.

3. Đưa nội dung thực hiện các công trình trọng điểm vào chương trình kiểm tra, giám sát thường xuyên.

4. Mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, tiên phong, gương mẫu; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

5. Kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm trong quá trình đầu tư xây dựng.

Tải file Tài liệu sinh hoạt chuyên đề số 9  TẠI ĐÂY


Ban Tuyên giáo Đảng ủy EVN 15/05/2026 - 15:26 (GMT+7)
Share

Tờ trình dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực: Bộ Công Thương đề xuất phân bổ các khoản chi phí hợp lý chưa được tính đủ vào giá bán lẻ điện

Tờ trình dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực: Bộ Công Thương đề xuất phân bổ các khoản chi phí hợp lý chưa được tính đủ vào giá bán lẻ điện

Vừa qua, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp đã đăng tải nội dung Hồ sơ thẩm định dự án sửa đổi Luật Điện lực, trong đó có dự thảo Tờ trình của Bộ Công Thương về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực số 61/2024/QH15. Trong nhiều nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực thì dự thảo này lần đầu kiến nghị bổ sung quy định trường hợp các chi phí hợp lý, hợp lệ phục vụ sản xuất, cung ứng điện chưa được bù đắp đầy đủ trong các lần tính toán, điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân thì được phân bổ vào các lần tính toán, điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân tiếp theo.


Phó Tổng giám đốc EVN Phạm Lê Phú làm việc với Cơ quan Năng lượng Đan Mạch

Phó Tổng giám đốc EVN Phạm Lê Phú làm việc với Cơ quan Năng lượng Đan Mạch

Chiều 14/5, tại Hà Nội, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Phạm Lê Phú tiếp và làm việc với đoàn công tác Cơ quan Năng lượng Đan Mạch (DEA), trao đổi về các nội dung hợp tác trong thời gian tới.


Hàng nghìn sáng kiến được lan tỏa từ phong trào thi đua trong EVN

Hàng nghìn sáng kiến được lan tỏa từ phong trào thi đua trong EVN

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cùng phong trào “Lao động sáng tạo”, Chương trình “10.000 sáng kiến” đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần thi đua, đổi mới, sáng tạo trong đoàn viên, người lao động EVN. Qua đó, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tập đoàn.


Chủ động nguồn than, Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 sẵn sàng đáp ứng yêu cầu huy động sản xuất điện

Chủ động nguồn than, Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 sẵn sàng đáp ứng yêu cầu huy động sản xuất điện

Với hơn 1,72 triệu tấn than đã được nhập về từ đầu năm đến nay, cùng năng suất bốc dỡ tại cảng vượt kế hoạch, Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 đang duy trì mức dự trữ nhiên liệu an toàn, sẵn sàng đáp ứng các kịch bản huy động công suất cao.


Chủ tịch Hội đồng thành viên EVN Đặng Hoàng An tiếp và làm việc với lãnh đạo Công ty Điện lực JAKS Hải Dương

Chủ tịch Hội đồng thành viên EVN Đặng Hoàng An tiếp và làm việc với lãnh đạo Công ty Điện lực JAKS Hải Dương

Sáng 14/5, tại Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) - ông Đặng Hoàng An có buổi tiếp và làm việc với Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Điện lực JAKS Hải Dương - ông Cui Wen Zhu.