Chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam tăng điểm 6 năm liên tục

25/10/2019 - 15:30 (GMT+7)

Theo thông tin được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố tại Báo cáo Doing Business 2020 (DB 2020), chỉ số tiếp cận điện năng năm 2019 của Việt Nam được đánh giá ở mức 88,2/100 điểm, tăng 0,26 điểm so với năm 2018. Bản báo cáo được công bố ngày 24/10. 

Chỉ số tiếp cận điện năng được Doing Business - WB đánh giá theo 4 tiêu chí: Thủ tục, thời gian và chi phí để kết nối với lưới điện, độ tin cậy cung cấp điện và tính minh bạch của giá điện. Với tổng kết quả đạt 88,2 điểm, chỉ số tiếp cận điện năng nằm trong nhóm 3 chỉ số của Việt Nam được đánh giá tốt nhất.

Về thứ hạng, chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam trong năm 2019 tiếp tục được xếp hạng Top 4 ASEAN, đồng thời duy trì vị trí xếp hạng 27 trên tổng số 190 quốc gia và nền kinh tế trên thế giới.

Cụ thể, theo ghi nhận tại DB 2020, về số thủ tục và thời gian thực hiện của ngành Điện, Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á.

Nếu so sánh Việt Nam với các quốc gia tham gia ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam đang ở nhóm 4 nước tốt nhất của các nước tham gia Hiệp định CPTPP.

Tại Việt Nam, khách hàng chỉ cần thực hiện 4 thủ tục, thấp hơn trung bình số thủ tục các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (4,2 thủ tục).

Độ tin cậy cung cấp điện và minh bạch về giá điện được Doing Business – WB đánh giá đạt 7/8 điểm, ngang bằng các nước Top 4 ASEAN.

Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ điện

Năm 2019, chỉ số tiếp cận điện năng của một số quốc gia trong ASEAN bị tụt hạng, như Singapore từ vị trí thứ 16 xuống vị trí thứ 19 thế giới, Philippines tụt xuống đứng thứ 6 khu vực sau Brunei.

Để duy trì đà tăng của điểm số và duy trì thứ hạng trên trường quốc tế, EVN đã triển khai quyết liệt, hiệu quả các giải pháp quản lý, kỹ thuật. Trong đó, Tập đoàn đã thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trong công tác kinh doanh, dịch vụ khách hàng.

Từ tháng 12/2018, EVN đã cung cấp 100% dịch vụ cung cấp điện tương đương với dịch vụ công cấp độ 4 – cấp độ cao nhất. Qua không gian mạng, sự phục vụ khách hàng của EVN không còn bị giới hạn bởi thời gian, không gian.

EVN không ngừng đa dạng các kênh thông tin, hướng tới sự công khai, minh bạch.  Khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu các thông tin, quy định, thủ tục của ngành Điện qua các website, app Chăm sóc khách hàng, tổng đài phục vụ 24/24h của các trung tâm chăm sóc khách hàng. EVN cũng đã nhanh nhạy ứng dụng AI- trí tuệ nhân tạo, thành quả của CMCN 4.0 để phục vụ tư vấn thông tin tới khách hàng sử dụng điện.

EVN sẵn sàng tư vấn, tiếp nhận yêu cầu dịch vụ điện của khách hàng 24/7 qua nhiều kênh thông tin. Ảnh: H.Hoa

Việc kết nối để đưa dịch vụ điện lên các website cung cấp dịch vụ công trực tuyến/trung tâm hành chính công đã được EVN thực hiện tại 100% các tỉnh/ thành phố.

Bên cạnh đó, EVN cũng được khách hàng ghi nhận với việc cung ứng điện an toàn, ổn định, liên tục. Nhờ ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ hiện đại như: Sửa chữa điện không cần cắt điện, phát triển các trung tâm điều khiển xa và trạm biến áp không người trực,…, độ tin cậy cung cấp điện không ngừng được nâng cao.

Không dừng lại ở những kết quả đã đạt được, với phương châm “lấy khách hàng làm trọng tâm”, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, hiện nay, EVN đang triển khai cung cấp 100% các dịch vụ điện theo phương thức điện tử trên diện rộng.

Cũng trong năm 2019, EVN sẽ hoàn thiện việc thực hiện kết nối 3 dịch vụ điện trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, gồm: Đăng ký và cấp mới khách hàng trung áp, đăng ký và cấp mới khách hàng hạ áp và thanh toán tiền điện.

Từ tháng 9/2019, EVN bắt đầu triển khai thử nghiệm dịch vụ này và sẽ chính thức cung cấp dịch vụ trên phạm vi cả nước trong tháng 11/2019. Qua đó, không ngừng mang tới sự tiện lợi cho khách hàng và góp phần cùng Chính phủ kiến tạo nền kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.


M.Hạnh 25/10/2019 - 15:30 (GMT+7)
Share

EVN trao đổi 2 biên bản ghi nhớ hợp tác trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc

EVN trao đổi 2 biên bản ghi nhớ hợp tác trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc

Trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc vào ngày 23/4 tại Hà Nội, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã trao đổi 2 biên bản ghi nhớ hợp tác với đối tác Hàn Quốc, mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực như công nghệ quản lý lưới điện, ổn định truyền tải, phát triển hạ tầng năng lượng,...


Bộ Công Thương ban hành quy định mới về khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia

Bộ Công Thương ban hành quy định mới về khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia

Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 963/QĐ-BCT ngày 22/4/2026 quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký.


Áp dụng khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia

Áp dụng khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia

Ngày 24/4/2026, Cục Điện lực - Bộ Công Thương ban hành văn bản số 1026/ĐL-TTD&HTĐ về việc áp dụng khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia.


Kích hoạt nguồn lực xã hội trong tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà

Kích hoạt nguồn lực xã hội trong tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà

Trong bối cảnh hệ thống điện chịu áp lực đồng thời từ cả phía cung và cầu, Chỉ thị 09/CT-TTg và Chỉ thị 10/CT-TTg đặt ra một cách tiếp cận mới trong quản lý năng lượng. Khi các giải pháp tiết kiệm điện, điều chỉnh phụ tải và phát triển nguồn điện phân tán được triển khai thực chất, những nguồn lực nhỏ lẻ sẽ được “kích hoạt”, trở thành một cấu phần quan trọng của hệ thống điện, qua đó góp phần bảo đảm cung ứng điện ổn định và hướng tới phát triển bền vững.


Khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia

Khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia

Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 963/QĐ-BCT ngày 22/4/2026 quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký.