Góc nhìn khác về nhiệt điện than

09/08/2019 - 08:40 (GMT+7)

Tạp chí Điện lực xin giới thiệu cùng độc giả bài viết của PGS. TS Trương Duy Nghĩa - Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Nhiệt Việt Nam. Bài viết là ý kiến phản hồi của tác giả về một số thông tin trái chiều liên quan đến nhiệt điện than đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc mạng xã hội.

Mới đây, một tổ chức ở Việt Nam đã công bố thông tin “Theo nghiên cứu của Trường Đại học Havard (Mỹ), những năm gần đây, Việt Nam có khoảng 17.500 người chết vì nhiệt điện than (NĐT)…” Những dòng thông tin trên đã làm rúng động dư luận và chúng tôi kiên quyết phản đối thông tin này. Vì sao?

Nếu nghiên cứu của Havard là đúng, tại sao họ không cảnh báo ngay cho người dân nước Mỹ, vì tỷ lệ NĐT của Mỹ gấp 185 lần Việt Nam. Ngoài ra, còn nhiều nước có tỷ trọng NĐT chiếm áp đảo so với các nguồn năng lượng khác và cao hơn Việt Nam rất nhiều, như: Trung Quốc là 79%, Đức 44,5%, Ôxtrâyla 68%. Trình độ nhận thức của người dân các nước này cũng khá cao và với hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, nếu NĐT gây chết nhiều người như vậy, tại sao họ không kiện các NMNĐ than? Ngược lại, NĐT của những nước này vẫn phát triển và chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn điện.

Đáng lo ngại hơn, có những thông tin cho rằng, trong tro xỉ thải ra từ NĐT có quá nhiều hạt bụi cỡ hạt <2,5μm (PM 2,5) là những hạt bụi rất khó lắng đọng, dễ dàng bị động vật hít vào, đọng lại trong phổi gây ung thư. Tôi khẳng định rằng, thông tin NTĐ thải nhiều bụi <2,5μm ra môi trường là không chính xác. Các NMNĐ than công suất từ nhỏ đến lớn đều sử dụng hệ thống lọc bụi tĩnh điện. Theo đó, các hạt bụi có kích thước càng nhỏ, càng gần với kích thước phân tử thì càng có lực hút tĩnh điện lớn, khi dòng khói chứa bụi đi qua hệ thống lọc bụi tĩnh điện, trước tiên, những hạt bụi nhỏ nhất sẽ bị giữ lại tại các bản cực. Mặt khác, ống khói tại các NMNĐ than đều cao hơn hoặc bằng 200 m, các hạt bụi này (tỷ lệ rất nhỏ), nếu không bị giữ lại ở thiết bị lọc bụi tĩnh điện, cũng sẽ bay đi rất xa sau khi ra khỏi ống khói. 

Kỹ sư vận hành Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1

Cần lưu ý rằng, các hoạt động khác trên mặt đất như, giao thông, xây dựng… đều có thể tạo ra các loại bụi kích cỡ <2,5μm.

Đáng buồn, có bài báo giật tít “4 NMNĐ trên một đoạn sông”, trong đó có đoạn “Nhiệt độ nước làm mát trên 40 độ C sẽ hủy diệt hết các loại thủy sinh, phá hủy nền kinh tế và văn hóa sông nước hàng nghìn năm của cư dân Nam Bộ”. Trích đoạn này quả là quá “đao to, búa lớn” làm cho người dân hiểu không đúng về bản chất NĐT. Thực tế, nước làm mát ở nhiệt độ trên 40 độ C là hoàn toàn không đúng và người viết không hiểu gì nguyên lý hoạt động của nhiệt điện. Bởi vì, nhiệt dung riêng (thường gọi là tỷ nhiệt) của nước là cao nhất (nhiệt dung riêng của nước =1, còn của các chất khác khoảng 0,3), nghĩa là cùng một lượng nhiệt cung cấp, nhiệt của nước tăng chậm nhất so với các loại vật chất khác. 

Theo số liệu về khí tượng thủy văn, nhiệt độ nước cao nhất tại các sông lớn của Việt Nam không vượt quá 28 độ C. Sự tăng nhiệt sau khi làm mát là khoảng 7-8 độ C, nghĩa là nhiệt độ nước làm mát thải ra, tối đa cũng chỉ vào khoảng 35-36 độ C. Thực tế hàng nghìn NMNĐ trên thế giới, không thấy ở đâu nói NMNĐ hủy diệt thủy sinh của các dòng sông. Ý kiến này chỉ là sự suy diễn vô căn cứ, thiếu tính xây dựng và tính khoa học.

Thời gian qua, dư luận xã hội đã hiểu không đúng về bản chất nhiệt điện than, dẫn đến việc phản đối đầu tư xây dựng NĐT vì dư luận cho rằng, ngoài thiệt hại kinh tế, người dân còn sự lo lắng về tình trạng sức khỏe do ô nhiễm bởi NĐT. Thực tế đã chứng minh, hoàn toàn không phải như vậy!

Những thông tin không chính xác còn đã tạo ra tiền lệ xấu, ủng hộ việc không chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước. Quy hoạch phát triển Điện lực Việt Nam, cũng như các quy hoạch phát triển các ngành nghề khác, đều được hoạch định trong giai đoạn 10 - 15 năm, tầm nhìn từ 30 đến 50 năm, do tập thể các nhà khoa học đầu ngành tham gia, tốn nhiều công sức khảo sát và tính toán và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Nghĩa là quy hoạch là một văn bản pháp lý, mọi đối tượng đều phải nghiêm chỉnh chấp hành. Tuy nhiên, nhiều địa phương đã từ chối thực hiện và Quy hoạch đã bị phá vỡ, ảnh hưởng rất lớn đến an ninh năng lượng, đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, mỗi năm Việt Nam phải xây dựng tương đương 4 nhà máy công suất 1.200 MW. Nếu tình trạng trên vẫn tiếp diễn như hiện nay, các NMNĐ mới không thể khởi công xây dựng, nguy cơ thiếu điện là không thể tránh khỏi. 

Tôi cho rằng, việc dư luận xã hội lo sợ, phản đối; các tỉnh không đồng ý xây dựng nhà máy NĐT tại địa phương mình có nguyên nhân sâu xa là chưa hiểu đầy đủ về NĐT, chỉ suy diễn theo hiện tượng NMNĐ than đốt hàng triệu tấn than, thải ra cả triệu tấn tro xỉ và đã thổi phồng quá mức về các tác hại của NĐT. Qua bài viết này, tôi mong rằng, mỗi người chúng ta cần có ý thức thượng tôn pháp luật; có nhãn quan khoa học và tiếp cận khách quan khi nhận xét, đánh giá những vấn đề liên quan đến khoa học. 


Theo TCĐL Chuyên đề Quản lý & Hội nhập 09/08/2019 - 08:40 (GMT+7)
Share

Lãnh đạo TKV và EVN tham gia đoàn công tác tại Indonesia, tăng cường hợp tác nhằm bảo đảm nguồn than cho sản xuất điện

Lãnh đạo TKV và EVN tham gia đoàn công tác tại Indonesia, tăng cường hợp tác nhằm bảo đảm nguồn than cho sản xuất điện

Trong hai ngày 31/3 và 1/4, đoàn công tác của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã làm việc tại Indonesia với các đối tác cung cấp than lớn, đồng thời khảo sát thực tế tại một số mỏ và cảng than trọng điểm. Chương trình nhằm tăng cường phối hợp trong việc nhập khẩu than phục vụ các nhà máy nhiệt điện.


Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương sẽ tư vấn, hỗ trợ xây dựng đề án phát triển EVN

Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương sẽ tư vấn, hỗ trợ xây dựng đề án phát triển EVN

Ngày 3/4, tại Hà Nội, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có buổi làm việc về triển khai xây dựng Đề án Phát triển EVN trở thành tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh, quy mô lớn, phấn đấu vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.


EVN và PV GAS ký thỏa thuận khung cung cấp nhiên liệu LNG cho các nhà máy điện Quảng Trạch II và III

EVN và PV GAS ký thỏa thuận khung cung cấp nhiên liệu LNG cho các nhà máy điện Quảng Trạch II và III

Chiều 3/4 tại Hà Nội, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) đã ký kết thỏa thuận khung cung cấp khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG) từ kho LNG Vũng Áng (Hà Tĩnh) cho các nhà máy điện Quảng Trạch II và III. Sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng trong hợp tác giữa hai đơn vị nhằm đảm bảo nguồn nhiên liệu cho các dự án điện khí, góp phần nâng cao an ninh năng lượng quốc gia.


EVN tăng cường năng lực ứng phó thiên tai, giữ vững an toàn hệ thống điện

EVN tăng cường năng lực ứng phó thiên tai, giữ vững an toàn hệ thống điện

Trước diễn biến thiên tai ngày càng cực đoan, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tiếp tục phát huy kinh nghiệm từ thực tiễn phòng, chống bão lũ năm 2025, chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp ứng phó và tìm kiếm cứu nạn, bảo đảm an toàn cho hệ thống điện trong năm 2026.


EVN và TP Cần Thơ phối hợp đẩy mạnh tiết kiệm điện, xây dựng hạ tầng điện

EVN và TP Cần Thơ phối hợp đẩy mạnh tiết kiệm điện, xây dựng hạ tầng điện

Ngày 3/4, tại TP. Cần Thơ, lãnh đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm việc với lãnh đạo UBND TP. Cần Thơ về công tác đảm bảo cung ứng điện năm 2026 và tình hình đầu tư xây dựng lưới điện trên địa bàn. Ông Vương Quốc Nam – Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ và ông Cao Quang Quỳnh – Thành viên HĐTV EVN đồng chủ trì buổi làm việc.