Việc cung cấp khí đốt cho phát điện hiện nay chỉ đáp ứng khoảng 66% nhu cầu và còn có thể khó khăn hơn trong thời gian tới

22/12/2019 - 23:19 (GMT+7)

Trong các tháng cuối năm 2019 và các năm tiếp theo, việc vận hành hệ thống điện của EVN sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó: Nhu cầu điện dự báo tiếp tục tăng trưởng cao, trong khi hệ thống điện hầu như không có dự phòng nguồn điện; mực nước các hồ thủy điện đang ở mức rất thấp, đặc biệt các hồ thủy điện lớn trên dòng sông Đà đang ở mức nước thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ các năm gần đây; việc cung ứng than cho phát điện hết sức khó khăn, bên cạnh đó các nhà máy nhiệt điện đã và đang phải huy động cao; tổng công suất các nguồn điện năng lượng tái tạo đã đưa vào vận hành và dự kiến tiếp tục tăng cao ảnh hưởng đến việc vận hành an toàn, ổn định hệ thống điện,... Riêng đối với các nguồn phát điện từ khí đốt thì đây cũng là thành phần quan trọng với tỷ lệ tham gia trong cơ cấu nguồn phát là khoảng 13% về công suất và 18% về sản lượng. Tuy nhiên, những năm gần đây nguồn khí trong nước đã dần suy giảm và dự báo còn tiếp tục khó khăn hơn nữa trong thời gian tới.

Từ đầu năm 2019 đến nay, việc cung cấp khí đốt cho phát điện chỉ đáp ứng khoảng 66% nhu cầu 

Hiện nay, khu vực Đông Nam bộ có 8 nhà máy điện (NMĐ) sử dụng nhiên liệu khí với tổng công suất 5.644MW. Khu vực Tây Nam bộ có NMĐ Cà Mau 1 và 2 (gồm 4 tổ máy) sử dụng nhiên liệu khí với tổng công suất là 1.500MW.

Tính từ năm 2010 đến nay, trung bình hàng năm sản lượng khí cấp cho các NMĐ là 7,96 tỷ m3(trong đó có 6,49 tỷ mkhí cấp cho các NMĐ khu vực Đông Nam bộ và 1,47 tỷ mkhí cấp cho các NMĐ khu vực Tây Nam bộ), chưa đáp ứng được nhu cầu huy động tối đa của các nhà máy. Nhu cầu khí để vận hành tối đa các tổ máy điện trong khu vực Đông Nam Bộ là 23,9 triệu m3/ngày, khu vực Tây Nam Bộ là 6,4 triệu m3/ngày. Như vậy, nếu tính tổng nhu cầu khí cho phát điện thì cần khoảng 30,3 triệu m3/ ngày.

Từ giữa năm 2018, các mỏ lô 06.1 và 11.2 đã có hiện tượng suy giảm rõ rệt. Đặc biệt trong năm 2019, lũy kế trong 10 tháng đầu năm, tổng sản lượng khí cấp cho phát điện đạt 6,83 tỷ m(trong đó khí cấp cho các NMĐ khu vực Đông Nam bộ là 5,62 tỷ m3, khí cấp cho các NMĐ khu vực Tây Nam bộ là 1,2 tỷ m3). Khả năng cấp khí từ nguồn khí khu vực Đông Nam Bộ chỉ đạt trung bình khoảng 16 triệu m3/ngày và Tây Nam Bộ chỉ đạt trung bình khoảng 3,97 triệu m3/ngày. Tổng lượng khí cung cấp được hiện nay đối với cả hai nguồn chỉ cấp được khoảng 20 triệu m3/ ngày, so với mức nhu cầu là 30,3 triệu m3/ ngày thì khả năng cung cấp khí đốt cho phát điện chỉ đáp ứng khoảng 66% nhu cầu. 

Nguồn khí cho phát điện trong thời gian tới còn khó khăn hơn nữa

Với tốc độ tăng trưởng phụ tải và tình hình phát triển nguồn điện hiện nay thì trong giai đoạn từ năm 2020-2025, dự kiến nhu cầu khí cho phát điện trung bình sẽ rất cao từ 8,5 - 9,5 tỷ m3/năm trở lên, nhưng ngay cả với thời điểm hiện tại thì khả năng cung cấp khí của PVGas luôn thấp hơn nhiều so với nhu cầu.

Theo dự báo kế hoạch cung cấp khí cho phát điện, khả năng cấp khí cho các nhà máy điện khu vực Đông Nam bộ dự kiến từ 6,5-7,5 tỷ m3/năm trong giai đoạn 2020-2023, tăng lên trên 9 tỷ m3/năm trong hai năm 2024-2025, và giảm dần trong các năm tiếp theo. Tuy nhiên, khả năng cấp khí trong giai đoạn 2020 - 2030 lại phụ thuộc nhiều vào tiến độ các nguồn khí mới như Sao Vàng – Đại Nguyệt, các dự án đường ống Nam Côn Sơn giai đoạn 2, cảng LNG Thị Vải và khả năng khai thác các mỏ hiện hữu do đã bước vào giai đoạn suy giảm. Khả năng cấp khí cho các nhà máy điện khu vực Tây Nam Bộ trong trường hợp không ký được hợp đồng mua khí bổ sung từ Petronas là 1,06 tỷ m3/năm và trong trường hợp mua được khí bổ sung có thể cấp được từ 1,8-2,1 tỷ m3/năm.

Nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ 3

Bên cạnh đó, để hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng với các NMĐ BOT, PVGAS cho biết từ ngày 01/01/2020 sẽ chỉ cung cấp khí cho các nhà máy điện khu vực Đông Nam bộ tối đa khoảng 13,524 triệu m3/ngày và trước đó từ ngày 13/10/2019 sản lượng khí cấp cho các nhà máy điện khu vực Tây Nam bộ bị giảm xuống còn 2,5 triệu m3/ngày (trong trường hợp không thống nhất được giá mua khí bổ sung từ Petronas). Với kế hoạch này, tổng lượng khí cấp trung bình ngày cho phát điện từ cả hai nguồn khí Đông Nam bộ và Tây Nam Bộ dự kiến chỉ còn khoảng 16 triệu m3/ngày, thấp hơn so với hiện nay từ 4 - 5 triệu m3/ngày, tức là chỉ đáp ứng được khoảng 53% nhu cầu phục vụ phát điện giai đoạn từ 2020 trở đi. Riêng trong năm 2020, tổng lượng khí dự kiến cấp cho phát điện chỉ khoảng 6 tỷ m3, thấp hơn nhiều so với kế hoạch. 

Hiện nay, khả năng cấp khí của lô 06.1 và 11.2 (cấp cho khu vực Đông Nam bộ) đã suy giảm đáng kể, với sản lượng hiện khai thác lần lượt là 8 triệu và 1,6 triệu m3/ngày thay vì 16 triệu và 5 triệu m3/ngày như trước đây. Theo đó, việc thiếu khí lô 06.1 và 11.2 sẽ ảnh hưởng tới việc hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng với các NMĐ BOT. Nếu duy trì sản lượng khai thác khí từ lô 06.1 và 11.2 như hiện nay, thì sẽ thiếu khí cho các NMĐ BOT từ năm 2023; dự kiến tổng lượng khí thiếu cho các NMĐ BOT cho đến khi hết hợp đồng vào năm 2025 là 3,01 tỷ m3

Trước những khó khăn trong việc khai thác nguồn điện khí phục vụ phát điện, EVN và PVGas đã xây dựng các phương án cấp khí nhanh cho khu vực Đông Nam bộ từ nguồn LNG. Song, trước mắt, để đảm bảo cung cấp điện trong năm 2020 (ưu tiên cung cấp điện trong mùa khô), EVN đã đề nghị PVGas duy trì cung cấp khí cho khu vực ĐNB ở mức 18,38 triệu m3/ngày (tương tự như đã thực hiện trong năm 2019); đẩy nhanh tiến độ đàm phán với Petronas, đảm bảo lượng khí cấp cho các NMĐ Cà Mau - khu vực Tây Nam bộ như hiện nay, ở mức khoảng 4,18 triệu m3/ngày. Bên cạnh đó, EVN tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp giải tỏa công suất các nguồn điện năng lượng tái tạo; tập trung huy động cao sản lượng điện từ các nhà máy nhiệt điện than, đồng thời huy động thêm các nguồn nhiệt điện dầu giá cao với mục tiêu đảm bảo cung cấp điện phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.


PV 22/12/2019 - 23:19 (GMT+7)
Share

Đổi mới hoạt động công đoàn theo hướng xây dựng mô hình phù hợp cho từng đơn vị

Đổi mới hoạt động công đoàn theo hướng xây dựng mô hình phù hợp cho từng đơn vị

Sau 5 năm triển khai Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới, Công đoàn Điện lực Việt Nam đã ghi nhận nhiều chuyển biến trong phương thức hoạt động, nâng cao vai trò đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động. Hội nghị sơ kết là dịp nhìn lại những kết quả đạt được, đánh giá những vấn đề đặt ra và xác định các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới.


Các trường hợp điện mặt trời mái nhà được bán điện dư

Các trường hợp điện mặt trời mái nhà được bán điện dư

Nghị định 243/2026/NĐ-CP quy định 5 nhóm nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ được bán điện dư.


Các trường hợp điện mặt trời mái nhà được bán điện dư

Các trường hợp điện mặt trời mái nhà được bán điện dư

Nghị định 243/2026/NĐ-CP quy định 5 nhóm nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ được bán điện dư.


EVN đang chuẩn bị như thế nào cho dự án điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam?

EVN đang chuẩn bị như thế nào cho dự án điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam?

Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 mở ra cơ hội lớn để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện mục tiêu giảm phát thải, song cũng đặt ra những yêu cầu chưa từng có đối với ngành Điện.


Điều chỉnh khung giờ cao điểm: Doanh nghiệp được lợi gì?

Điều chỉnh khung giờ cao điểm: Doanh nghiệp được lợi gì?

Theo Quyết định số 963/QĐ-BCT ngày 22/4/2026 của Bộ Công Thương, khung giờ cao điểm được chuyển hoàn toàn sang buổi tối, tạo điều kiện để doanh nghiệp bố trí ca làm việc và tổ chức sản xuất trong giờ hành chính. Sự điều chỉnh không làm thay đổi giá bán điện và không làm tăng tổng số giờ cao điểm trong ngày.