Tôi sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đất nước vừa thống nhất, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Quê nội, quê ngoại nằm dọc hai bên bờ sông Thu Bồn vùng đất thấp trũng, hằng năm chịu cảnh lũ lụt. Với người nông dân khi ấy, lo đủ cái ăn cho ba ngày Tết đã là cả một sự chắt chiu, tằn tiện.
Trong ký ức tuổi thơ, Tết vẫn luôn là điều gì đó rất thiêng liêng. Tết là được đi chơi, được ăn bánh in, bánh lăn, có thêm miếng thịt heo, những thứ ngày thường hiếm hoi. Và hơn hết, Tết là được mẹ may cho bộ quần áo mới. Lời hẹn giản dị: “Tết sẽ có áo mới” đủ để lũ trẻ chúng tôi đếm từng ngày chờ Tết bằng tất cả sự háo hức.
Ba anh em tôi, năm nào đến đầu tháng Chạp, mẹ cũng chở trên chiếc xe đạp cũ đến nhà bác thợ may để đo cắt quần áo. Nhận áo về, dù vải còn nguyên dấu phấn, chúng tôi nâng niu cất kỹ, tối đến nằm thao thức mong trời mau sáng. Quần áo mới ngày ấy chỉ là quần xanh vải terin, áo trắng vải KT – mặc Tết xong lại dùng đi học. Nhưng niềm vui thì thật trọn vẹn, bởi cả năm chỉ có Tết và ngày khai giảng mới được mặc áo mới.
|

Ảnh minh họa
|
Tết xưa còn gắn liền với những đêm tối thắp đèn dầu. Cả làng chỉ le lói ánh đèn “hột vịt”, ánh sáng yếu nhưng ấm. Mọi sinh hoạt từ bữa cơm tối đến việc học của con trẻ đều xoay quanh ngọn đèn nhỏ bé ấy. Chỉ những gia đình khá giả mới dám thắp đèn măng xông mỗi dịp Tết.
Đến năm 1988, khi tôi học lớp 6, địa phương được đầu tư máy phát điện diesel. Ngày những người thợ điện về dựng trụ, kéo dây dọc con đường làng, niềm vui lan khắp xóm. Rồi đêm phát điện đầu tiên cũng đến. Cả làng sáng bừng lên. Chỉ là bóng đèn sợi đốt 25W, 50W, nhưng đủ để thắp sáng niềm tin và ước mơ của biết bao thế hệ.
Máy phát điện chỉ chạy vài giờ buổi tối, nhưng đó là khoảng thời gian quý giá. Tiếng máy “phành phạch” vang lên là lũ trẻ ngồi ngay vào bàn học. Khi điện tắt, lại trở về với đèn dầu, nhưng trong lòng đã khác: ánh sáng đã đến, và sẽ còn đến nữa.
Vài năm sau, điện lưới quốc gia về đến làng quê. Dù ban đầu còn chập chờn, lúc mất lúc có, mỗi lần sự cố phải chờ sửa chữa khá lâu, nhưng ánh sáng điện đã mở ra một trang mới cho cuộc sống. Làng quê dần đổi thay, sinh hoạt, sản xuất từng bước khởi sắc.
Trong ký ức tôi vẫn in đậm hình ảnh những người thợ điện năm ấy: áo xanh, miệt mài giữa nắng mưa. Với trẻ con, đó là những con người mang ánh sáng về cho xóm làng. Ước mơ được làm thợ điện, được góp phần giữ cho ánh sáng ấy không tắt, nhen lên trong tôi từ những ngày rất sớm. Những nồi khoai, nồi sắn mộc mạc mà bà con dành đãi thợ điện chứa đựng biết bao sự trân quý.
Hôm nay, đất nước đã đổi khác. Điện sáng khắp làng quê, phố phường rực rỡ đèn hoa mỗi dịp Tết đến. Thiết bị điện hiện diện trong từng ngôi nhà, phục vụ đời sống ngày càng tiện nghi. Trẻ em bây giờ có điều kiện đầy đủ hơn rất nhiều so với thế hệ chúng tôi ngày trước.
Nhưng mỗi khi nhìn ánh đèn LED sáng lên trong đêm, tôi vẫn nhớ chiếc đèn dầu cũ, nhớ tiếng máy phát điện năm xưa để càng thấm thía giá trị của những đổi thay mà đất nước, ngành điện và biết bao thế hệ người lao động đã bền bỉ vun đắp.
Mẹ tôi, bà tôi nay đã không còn, nhưng ký ức Tết xưa vẫn vẹn nguyên. Những câu chuyện về kháng chiến, về công ơn của Đảng, của Bác Hồ mà bà từng kể, nay hòa cùng ánh sáng điện lan tỏa khắp mọi miền, như một minh chứng sinh động cho hành trình đi lên của đất nước.
Không ai mong quay lại những ngày gian khó. Nhưng ký ức ấy luôn nhắc nhở chúng ta biết trân trọng hiện tại. Và trong dòng ký ức đó, ánh sáng điện không chỉ là ánh sáng vật chất, mà còn là ánh sáng của niềm tin, của sự đổi thay, của khát vọng vươn lên.
Mỗi độ Xuân về, nhìn điện sáng khắp phố phường, làng quê, tôi lại thầm biết ơn những người làm điện, những con người lặng lẽ, ngày đêm giữ cho dòng sáng không bao giờ tắt.
Hoàng Ngọc Chung
15/02/2026 - 11:11 (GMT+7)
Share