• Văn bản pháp lý

  • Quy hoạch

  • Tham khảo

    • Công bố kết quả tính toán khả năng giải tỏa công suất các nhà máy điện mặt trời (lập tháng 12/2018)

      Tỉnh/ TP

      Trường hợp các dự án ĐMT đã ký hợp đồng mua bán điện (PPA) vào vận hành

      Trường hợp các dự án ĐMT đã ký hợp đồng mua bán điện (PPA) và các dự án đang đàm phán hợp đồng mua bán điện vào vận hành

      Tổng công suất các dự án ĐMT (MW)

      Các đường dây 500/220/110 kV đầy tải, quá tải

      Tổng công suất các dự án ĐMT (MW)

      Các đường dây 500/220/110 kV đầy tải, quá tải

      Quảng Bình

      39.92

      1. Đầy tải

      - MBA 220kV Tháp Chàm 2

      - ĐZ 110kV Sông Cầu – Long Mỹ

      2. Quá tải

      - MBA 500kV Di Linh

      - MBA 500kV Đăk Nông

      - ĐZ 220kV Đa Nhim – Đức Trọng

      - ĐZ Tháp Chàm 2 – SP Infra – Ninh Phước

      - ĐZ 110kV Đa Nhim – Đơn Dương

      - Trục ĐZ 110kV Tháp Chàm – Ninh Phước – Tuy Phong – Phan Rí

      - ĐZ Châu Đốc – Tịnh Biên

      39.92

      1. Đầy tải

      - ĐZ 110kV Đa Nhim – ĐMT CMX

      - ĐZ 110kV Đa Nhim – Hạ Sông Pha

      - ĐZ 110kV Phan Thiết – Mũi Né

      2. Quá tải

      - MBA 500kV Vĩnh Tân

      - MBA 500kV Di Linh

      - MBA 500kV Đăk Nông

      - MBA 220kV Tháp Chàm 2

      - MBA 220kV Đại Ninh

      - ĐZ 220kV Đa Nhim – Đức Trọng,

      - ĐZ 220kVĐức Trọng – Di Linh

      - ĐZ 220kV Tuy Hòa – Quy Nhơn

      - ĐZ 110kV Tháp Chàm 2 – SP Infra – Ninh Phước

      - Trục ĐZ 110kV Tháp Chàm – Ninh Phước – Tuy Phong – Phan Rí

      - ĐZ 110kV Đa Nhim – Đơn Dương

      - ĐZ 110kV Phan Thiết – Mũi Né

      - ĐZ 110kV Châu Đốc – Tịnh Biên

      - ĐZ 110kV Sông Cầu – Long Mỹ

      - ĐZ 110kV Suối Dầu - BĐ Cam Ranh - Sân Bay Cam Ranh - KN Cam Lâm

       

      Quảng Trị

      39.9

      40

      Huế

      35

      75

      Quảng Ngãi

      0

      59.2

      Gia Lai

      49

      49

      Đăk Lăk

      85.3

      109

      Đăk Nông

      50

      50

      Bình Định

      80.3

      120.6

      Phú Yên

      214.2

      415

      Khánh Hòa

      120

      210

      Ninh Thuận

      725.8

      1303.2

      Bình Thuận

      566.31

      789

      Lâm Đồng

      38

      38

      Long An

      32.7

      112.5

      Vũng Tàu

      96

      152

      Tây Ninh

      430

      608

      An Giang

      264

      264

      Hậu Giang

      0

      23

      Thanh Hoá

      0

      30

    • Công bố kết quả tính toán khả năng giải tỏa công suất các nhà máy điện mặt trời (lập tháng 11/2018)

      Tỉnh/ TP

      Trường hợp các dự án ĐMT đã ký hợp đồng mua bán điện (PPA) vào vận hành

      Trường hợp các dự án ĐMT đã ký hợp đồng mua bán điện (PPA) và các dự án đang đàm phán hợp đồng mua bán điện vào vận hành

      Tổng công suất các dự án ĐMT (MW)

      Các đường dây 500/220/110 kV đầy tải, quá tải

      Tổng công suất các dự án ĐMT (MW)

      Các đường dây 500/220/110 kV đầy tải, quá tải

      Quảng Bình

      39.92

      1. Đầy tải

      - MBA 500kV Di Linh

      - ĐZ 220kV Đa Nhim – Đức Trọng

      - ĐZ Tháp Chàm 2 – SP Infra – Ninh Phước

      - ĐZ 110kV Sông Cầu – Long Mỹ

      2. Quá tải

      - ĐZ 110kV Đa Nhim – Đơn Dương

      - Trục ĐZ 110kV Tháp Chàm – Ninh Phước – Tuy Phong – Phan Rí

      - ĐZ Châu Đốc – Tịnh Biên

       

      39.92

      1. Đầy tải

      - MBA 500kV Vĩnh Tân

      - ĐZ 110kV Đa Nhim – ĐMT CMX- 90%, ĐZ 110kV Đa Nhim – Hạ Sông Pha

      2. Quá tải

      - MBA 500kV Di Linh

      - MBA 500kV Đăk Nông

      - MBA 220kV Tháp Chàm 2

      - MBA 220kV Đại Ninh

      - ĐZ 220kV Đa Nhim – Đức Trọng,

      - ĐZ 220kVĐức Trọng – Di Linh

      - ĐZ 220kV Tuy Hòa – Quy Nhơn

      - ĐZ 110kV Tháp Chàm 2 – SP Infra – Ninh Phước

      - Trục ĐZ 110kV Tháp Chàm – Ninh Phước – Tuy Phong – Phan Rí

      - ĐZ 110kV Đa Nhim – Đơn Dương

      - ĐZ 110kV Phan Thiết – Mũi Né

      - ĐZ 110kV Châu Đốc – Tịnh Biên

      - ĐZ 110kV Sông Cầu – Long Mỹ

      - ĐZ 110kV Suối Dầu - BĐ Cam Ranh - Sân Bay Cam Ranh - KN Cam Lâm

      Quảng Trị

      0

      40

      Huế

      35

      75

      Quảng Ngãi

      0

      40

      Gia Lai

      49

      49

      Đăk Lăk

      0

      109

      Đăk Nông

      50

      50

      Bình Định

      40

      120

      Phú Yên

      214.2

      414

      Khánh Hòa

      120

      210

      Ninh Thuận

      685.5

      1047.32

      Bình Thuận

      566.31

      749.63

      Lâm Đồng

      38

      38

      Long An

      0

      73

      Vũng Tàu

      96

      152

      Tây Ninh

      143.33

      527.38

      An Giang

      264

      264

      Hậu Giang

      0

      23

    • Hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001

      Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) ban hành Tiêu chuẩn ISO 50001: 2011 - Hệ thống quản lý năng lượng, các yêu cầu và hướng dẫn sử dụng, tháng 6/2011. Tiêu chuẩn này có thể được áp dụng một cách riêng biệt hoặc lồng ghép với các tiêu chuẩn quản lý khác.

      Xem chi tiết trong file đính kèm

    • Mô hình cung cấp dịch vụ năng lượng (ESCO) tại Việt Nam

      Công ty Dịch vụ Năng lượng (ESCO) cung cấp các giải pháp năng lượng toàn diện. Tham khảo thông tin về mô hình ESCO trong tờ rơi dưới đây.

      ESCO thực hiện các dự án tiết kiệm năng lượng vì lợi ích của khách hàng bằng cách hướng đến giải quyết các rào cản tự nhiên của thị trường, ESCO cung cấp dịch vụ cho khách hàng thông qua Hợp đồng hiệu quả năng lượng (EPC).

       

    • Sổ tay hướng dẫn phát triển dự án năng lượng sinh khối

      Tài liệu do Dự án năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng thuộc Chương trình Hỗ trợ Năng lượng GIZ tại Việt Nam phối hợp cùng Bộ Công Thương thực hiện và giới thiệu tới công chúng, ngày 3/10/2018. 

      Xem chi tiết trong file đính kèm

    • Ứng dụng năng lượng tái tạo tại các đồn biên phòng

      Đề tài khoa học “Nghiên cứu đề xuất ứng dụng năng lượng tái tạo phục vụ nhu cầu sử dụng năng lượng cho các đồn biên phòng trên toàn quốc” của Viện Năng lượng, triển khai năm 2010.

      Xem chi tiết trong file đính kèm

  • Tin năng lượng tái tạo

    • Phát triển năng lượng tái tạo: Thách thức trong điều hành hệ thống điện Việt Nam

      Ông Nguyễn Đức Cường

      PV: Khi NLTT phát triển, việc điều hành hệ thống điện sẽ có những thuận lợi, khó khăn gì, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Theo Quy hoạch điện VII hiệu chỉnh, đến năm 2020, hệ thống điện Việt Nam sẽ có 800 MW điện gió và 850 MW điện mặt trời và tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo. Việc phát triển NLTT đi kèm cơ chế khuyến khích ưu đãi sẽ thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, qua đó giảm áp lực về việc thu xếp vốn xây dựng các công trình nguồn điện. Đặc biệt, các dự án điện mặt trời, điện gió chủ yếu tập trung ở miền Nam và Nam Trung bộ - khu vực có phụ tải chiếm khoảng 50% cả nước. Vì vậy, phát triển NLTT sẽ góp phần giảm thiếu hụt điện tại miền Nam, tăng cường an ninh cung ứng điện và giảm căng thẳng trong vận hành hệ thống điện.

      Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, NLTT cũng gây không ít khó khăn trong việc điều hành hệ thống điện. Cụ thể, với đặc điểm công suất phát hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn năng lượng sơ cấp mang tính bất định như NLTT, sự ổn định của hệ thống điện nhìn chung sẽ bị ảnh hưởng nếu các nguồn điện truyền thống không kịp thời điều chỉnh theo sự thay đổi công suất của phụ tải và nguồn điện từ NLTT. 

      Theo tính toán, hệ số sử dụng công suất của các nguồn NLTT (gió, mặt trời) tại Việt Nam chỉ khoảng 18-20%, thấp hơn đáng kể so với nguồn nhiệt than khoảng 75% và thủy điện khoảng 40-50%. Ngoài ra, nếu NLTT tham gia sâu vào hệ thống, việc vận hành sẽ gặp những thách thức sau: Chất lượng điện năng cũng có xu hướng xấu đi, hiện tượng điện áp nằm ngoài ngưỡng quy định sẽ tăng thêm, đặc biệt tại các khu vực tập trung nhiều nguồn và cách xa trung tâm phụ tải, quá trình mất cân bằng trong hệ thống có xu hướng xảy ra nhanh và mạnh hơn. 

      Trong 3-5 năm tới, sự phát triển của các dự án điện mặt trời cũng có thể vượt quá khả năng mang tải của lưới điện hiện có. Giới hạn vận hành của thiết bị tại các khu vực có tiềm năng điện mặt trời lớn như Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Khánh Hoà… sẽ liên tục bị vi phạm, gây bất ổn hệ thống, nguy hiểm cho thiết bị và phát sinh nhiều vấn đề về kĩ thuật mà các cấp điều độ phải xử lý.

      PV: Cần phải làm gì để “hóa giải” những khó khăn, thách thức trên, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Một trong các thách thức lớn nhất trong vận hành nguồn NLTT là tính bất ổn của công suất phát. Để có thể giảm nhẹ ảnh hưởng này, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã giao A0 xây dựng hệ thống dự báo năng lượng tái tạo ngắn hạn. Hệ thống sẽ dự báo được công suất phát của các nguồn NLTT dựa trên các thông tin về dự báo khí tượng thủy văn, thời tiết, đặc tính vận hành và thời gian hoạt động thực tế của các nhà máy NLTT. Từ kết quả này, A0 sẽ có các phương án chủ động lập kế hoạch huy động nguồn điện NLTT và kế hoạch huy động các nguồn hỗ trợ khác để điều khiển tần số hệ thống điện. Nếu làm tốt việc dự báo, hệ thống điện sẽ được vận hành ổn định, an toàn và kinh tế.

      PV: Việc xây dựng hệ thống dự báo năng lượng tái tạo có gặp nhiều khó khăn không, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Đây là hệ thống hoàn toàn mới, A0 chưa có nhiều kinh nghiệm, công tác triển khai cũng gặp rất nhiều thử thách. Bên cạnh đó, ngoài nỗ lực của A0, cần có sự tham gia của các đơn vị khác như, đơn vị cung cấp dịch vụ dự báo khí tượng có chất lượng cao, đảm bảo độ tin cậy, đơn vị sở hữu nhà máy NLTT...

      Hiện nay A0 đang tích cực trao đổi, học hỏi kinh nghiệm quốc tế và khu vực về dự báo NLTT; cử các chuyên viên, kỹ sư tham gia hội nghị, hội thảo và các lớp đào tạo chuyên sâu về dự báo; kết nối với các nhà cung cấp giải pháp, cơ sở hạ tầng dự báo công suất NLTT để tìm hiểu và đặt vấn đề xây dựng hệ thống dự báo tại cơ quan A0.

      Đồng thời, A0 cũng chủ động xây dựng yêu cầu kỹ thuật triển khai dự báo, tìm kiếm các đơn vị cung cấp dịch vụ dự báo khí tượng trong và ngoài nước, đảm bảo có thể cung cấp thông tin dự báo bức xạ, nhiệt độ, tốc độ gió… phục vụ lập kế hoạch và điều độ hệ thống điện; kiến nghị Tập đoàn, Cục Điều tiết Điện lực, Bộ Công Thương về việc điều chỉnh, bổ sung các Thông tư, quy trình, quy định về nghĩa vụ đầu tư hệ thống quan trắc, dự báo, bổ sung danh mục các tín hiệu cần cung cấp về các cấp Điều độ.

      PV: Với tính bất ổn nguồn phát của NLTT, việc xây dựng hệ thống dự báo NLTT đã đủ để đảm bảo hệ thống điện quốc gia được vận hành an toàn, ổn định chưa, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Đây chỉ là một trong những yếu tố cần thiết để Điều độ quốc gia chủ động trong việc lập kế hoạch huy động nguồn điện tại từng thời điểm. Tuy nhiên, để vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định và kinh tế khi NLTT phát triển, còn rất nhiều việc phải làm.

      A0 cũng đang tập trung kiện toàn quy định và tổ chức điều khiển tần số hệ thống điện hiện tại. Cụ thể, đề xuất Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Cục Điều tiết Điện lực cập nhật phương pháp luận xác định lượng công suất điều tần và dự phòng quay, theo hướng có tính toán cụ thể và chi tiết hơn cho các chế độ vận hành lưới điện; rà soát hiện trạng điều khiển tần số trên hệ thống, phối hợp với các đơn vị phát điện toàn quốc thí nghiệm hiệu chỉnh hệ thống tự động điều khiển tần số, điện áp; yêu cầu cài đặt thông số và đưa vào vận hành.

      A0 cũng tiến hành nghiên cứu các phương án điều khiển tần số, điện áp mới trên hệ thống điện để hỗ trợ tích hợp năng lượng tái tạo. Hiện nay, chúng tôi đang phối hợp với Cơ quan Thương mại và Phát triển Hoa Kỳ nghiên cứu các hệ thống tích trữ năng lượng... tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới có nguồn NLTT phát triển.

      PV: Cùng với nỗ lực của ngành Điện nói chung, A0 nói riêng, theo ông, Nhà nước cũng như chủ đầu tư cần phải làm gì trong việc đảm bảo an ninh hệ thống điện khi NLTT đi sâu trong hệ thống?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Các chủ đầu tư cần tuân thủ các tiêu chuẩn quy định trong việc lựa chọn thiết bị đầu tư nhà máy điện mặt trời. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các cấp điều độ trong việc thoả thuận kỹ thuật, đóng điện điểm đấu nối, thử nghiệm nghiệm thu và vận hành thương mại. Đặc biệt, cần lựa chọn các khu vực có khả năng giải toả công suất để phát triển dự án...

      Với các cơ quan nhà nước, cần sớm ban hành quy hoạch phát triển điện mặt trời cấp quốc gia, trong đó cần xem xét kỹ các vấn đề về khả năng giải toả công suất, các yêu cầu kỹ thuật đi kèm cơ chế khuyến khích, tỷ trọng NLTT phù hợp, đảm bảo hệ thống vận hành an toàn, ổn định và hiệu quả.

      PV: Xin cảm ơn ông! 
        

    • Việt Nam: “Miền đất hứa” phát triển điện gió

      Ông Ti Chee Liang

      PV: Thưa ông, UBND tỉnh Trà Vinh vừa đồng ý chủ trương cho phép Janakuasa/Ecotech triển khai 2 dự án điện gió tại địa phương. Xin ông cho biết, vì sao Công ty lại lựa chọn đầu tư vào lĩnh vực điện gió - một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam?

      Ông Ti Chee Liang: Có 2 lý do chính. Thứ nhất, năng lượng xanh là xu thế phát triển trên thế giới. Có nhiều trang trại điện gió và điện mặt trời đã được xây dựng tại các nước châu Âu. Năng lượng xanh ngày càng góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường sống. Thế giới hiện nay đã sử dụng xe điện thay thế xe sử dụng xăng, dầu trong giao thông đường bộ và Công ty Sản xuất xe điện Tesla là một trong những công ty có giá trị nhất thế giới.

      Thứ hai, khi nền kinh tế phát triển và nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng lớn, việc bổ sung nguồn năng lượng xanh, sạch, ngày càng trở nên cấp thiết hơn. Janakuasa mong muốn trở thành một trong những doanh nghiệp đi đầu hỗ trợ Việt Nam phát triển nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng xanh.

      PV: Những khó khăn khi đầu tư dự án điện gió là gì, thưa ông?

      Ông Ti Chee Liang: Tôi phải thừa nhận rằng, về mặt kỹ thuật, các dự án nhà máy điện rất phức tạp, đòi hỏi phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về hệ thống điện quốc gia. Mặt khác, dự án điện có suất đầu tư rất lớn, các yêu cầu về thủ tục pháp lý, hành chính cũng rất chặt chẽ. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, chúng tôi rất biết ơn tỉnh Trà Vinh đã thẩm định và giúp rút ngắn quá trình thực hiện các thủ tục hành chính, tạo điều kiện để hai bên cùng đạt được tiến độ của dự án.

      Cùng với đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là bên mua điện, có rất nhiều kinh nghiệm và trình độ quản lý các dự án quy mô lớn đã tích cực hỗ trợ đẩy nhanh tiến độ thực hiện các thủ tục pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để đàm phán thành công hợp đồng mua bán điện.

      PV: Chính phủ Việt Nam vừa có Quyết định về điều chỉnh giá điện gió từ 7,8 Uscents/kWh lên 8,5 Uscents đối với dự án trên đất liền và 9,8 Uscents đối với các dự án trên  biển. Ông đánh giá thế nào về sự điều chỉnh này?

      Ông Ti Chee Liang: Chúng tôi cho rằng, mức giá mua điện gió 7,8 Uscents trước đây là khá thấp, khó hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư. Nhưng Chính phủ Việt Nam đã kịp thời điều chỉnh giá điện. Với mức giá điều chỉnh vừa qua, tôi thấy là hợp lý và có thể tiếp tục đầu tư các dự án điện gió khác ở Việt Nam.

      PV: Nhiều người dân địa phương lo ngại, các dự án điện gió sẽ làm ảnh hưởng xấu đến môi trường như chiếm đất, chiếm biển… Công ty sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?

      Ông Ti Chee Liang: Điện gió là một trong nguồn năng lượng sạch nhất do không phát sinh khí thải, gây ô nhiễm môi trường. Lưu lượng gió rất phong phú và là nguồn vô tận. Các trang trại điện gió chỉ có tác động một phần nhỏ về môi trường, khi cánh quạt gió va quệt vào đàn chim bay trên trời, hoặc gây ra tiếng ồn tần số thấp do tua-bin gió hoạt động. Những vấn đề này đã được các nước phát triển mạnh về điện gió ở châu Âu nghiên cứu kỹ và chúng tôi sẽ đưa những giải pháp và công nghệ đã được kiểm chứng vào trang trại điện gió Trà Vinh.

      Một số lập luận cho rằng, xây dựng điện gió ngoài khơi ảnh hưởng đến đánh bắt hải sản? Thực tế nghiên cứu cho thấy, trang trại điện gió ngoài khơi còn làm tăng quần thể cá do tua bin gió có vai trò như các rạn san hô nhân tạo.

      Là nhà đầu tư phát triển dự án điện gió, chúng tôi rất thận trọng với những ảnh hưởng đối với môi trường. Chúng tôi đã thuê các tư vấn chuyên nghiệp tiến hành lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và xã hội trong khu vực phát triển dự án. Kinh nghiệm của các dự án điện gió trên thế giới cho thấy, tác động môi trường từ điện gió là rất ít so với các công nghệ phát điện khác.

      PV: Công ty đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp kỹ thuật như thế nào liên quan đến nối lưới điện quốc gia tại Việt Nam, thưa ông?

      Ông Ti Chee Liang: Chúng tôi hiểu rằng, các thông số kỹ thuật khi đấu nối điện gió vào lưới điện quốc gia sẽ có nhiều khó khăn, thách thức với 3 lý do chính: Dao động công suất, tần số; thay đổi về tốc độ gió làm tăng hoặc giảm sản lượng điện; điện áp cao hoặc thấp đột ngột có thể gây ra nhảy thiết bị bảo vệ lưới điện.

      Tuy nhiên, những vấn đề này không phải là mới mà đã được giải quyết xong tại các trang trại điện gió lớn ở các nước châu Âu. Chúng tôi dự định tận dụng kinh nghiệm và kiến thức trên thế giới của Janakuasa (Singapore) và Ratchaburi (Thái Lan), là bên có quyền truy cập vào các giải pháp đã thử nghiệm tốt ở các nước châu Âu và áp dụng vào trang trại điện gió Trà Vinh.

      Đấu nối vào lưới điện quốc gia sẽ là vấn đề phức tạp nếu quốc gia đó không có quy hoạch phát triển điện lực đầy đủ. Chúng tôi hiểu rằng, Việt Nam đã nghiên cứu một cách cẩn trọng các tác động tiêu cực từ các dự án năng lượng tái tạo khi đấu nối vào hệ thống điện quốc gia. Khi thực hiện các dự án, chúng tôi sẽ tính toán kỹ các thông số kỹ thuật, bảo đảm an toàn khi đấu nối.

      PV: Trân trọng cảm ơn ông!

      Dự án Điện gió Hiệp Thạnh:

      - Chủ đầu tư: Công ty cổ phần năng lượng tái tạo Ecotech Việt Nam; Công ty Janakuasa Pte LTD (Singapore)

      - Địa điểm xây dựng: Xã Hiệp Thạnh, thị xã Duyên Hải

      - Công suất thiết kế: 78MW (với 18 - 19 cột tua bin gió)

      - Tổng vốn đầu tư: Gần 3.370 tỷ đồng. 

      - Dự kiến hoàn thành: Năm 2020.

    • Hơn 3.200 kWp điện mặt trời áp mái đã vận hành tại trụ sở các điện lực

      Công trình điện mặt trời áp mái tại trụ sở Tổng công ty Điện lực TP.HCM 

      Trong đó, Tổng công ty Điện lực Hà Nội lắp đặt 52 kWp; Tổng công ty Điện lực miền Trung 352 kWp; Tổng công ty Điện lực miền Nam 1.985 kWp và Tổng công ty Điện lực TP.HCM 855 kWp.

      Theo báo cáo của các đơn vị, do hầu hết các công trình đều mới được hoàn thành và đưa vào sử dụng trong thời gian từ tháng 4/2018 đến nay, nên tổng điện năng thu được tính đến cuối tháng 7/2018 đạt khoảng 1,1 triệu kWh, với giá trị làm lợi khoảng 3,1 tỷ đồng.

      Được biết, tổng tiềm năng điện mặt trời áp mái trên trụ sở và công trình tại các đơn vị trực thuộc EVN là 56,4 MWp. Hiện nay, EVN đang chỉ đạo các đơn vị tiếp tục triển khai lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái, vừa góp phần giảm áp lực cho hệ thống điện lưới; vừa là hình mẫu để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động người dân, doanh nghiệp trên cả nước sử dụng điện mặt trời.

      Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới về năng suất phát điện mặt trời, ở khu vực miền Nam (TP.HCM và các tỉnh miền Nam), điện năng phát của 1 kWp đạt khoảng 1.350-1.450 kWh/năm; riêng khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận có thể đạt 1.550 kWh/năm. Còn các tỉnh miền Trung đạt khoảng 1.300 kWh/năm. Giá trị làm lợi (tính theo giá mua điện của văn phòng đơn vị Điện lực) điện mặt trời mang lại đạt từ 3,6-3,9 triệu đồng/năm/kWp.

    • 748 dự án điện mặt trời lắp mái đã triển khai trên cả nước

      Cần xem xét tháo gỡ những vướng mắc về thuế cho các dự án điện mặt trời lắp mái

      Hội thảo do Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) và Nhóm công tác về biến đổi khí hậu (CCWG) tổ chức, trong khuôn khổ Tuần lễ Năng lượng tái tạo Việt Nam năm 2018.

      Ông Nguyễn Ninh Hải - Phó phòng Phòng Năng lượng tái tạo, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) cho biết, sau hơn 1 năm triển khai, Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam (gọi tắt là Quyết định 11) và Thông tư 16/2017/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định về phát triển dự án và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời (gọi tắt là Thông tư 16) đã tạo được "cú hích" cho thị trường điện mặt trời tại Việt Nam. Đặc biệt, cơ chế dành cho các dự án điện mặt trời quy mô lớn đã rất hấp dẫn các nhà đầu tư.

      Cũng theo ông Hải, tính đến ngày 18/6/2018, đã có 100 dự án điện mặt trời quy mô lớn được bổ sung vào quy hoạch điện cấp tỉnh/quốc gia. Trong đó, tổng công suất đăng ký là 4,7 GW vào năm 2020 và thêm 1,77 GW sau năm 2020.

      Với các dự án điện mặt trời lắp mái, tính đến cuối tháng 7/2018, đã có 748 dự án được triển khai trên cả nước, với tổng công suất 11,55 MWp.

      Tuy đã tạo được tín hiệu đáng mừng nhưng việc triển khai các dự án điện mặt trời cũng đang gặp một số vướng mắc về quy trình đấu nối; mâu thuẫn với quy định về thuế trong việc bán lại sản lượng điện dư của các dự án điện mặt trời áp mái; các chứng nhận về inverter...

      Nhiều ý kiến của các đại biểu, chuyên gia cho rằng, cần sớm tháo gỡ những vướng mắc trên, thì mới tạo động lực thúc đẩy cho điện mặt trời phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam.

      Được biết, hiện nay, Bộ Công Thương đang xem xét trình Chính phủ sửa đổi cơ chế giá FIT - cơ chế giá áp dụng cho điện sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo, đối với dự án điện mặt trời áp dụng sau tháng 6/2019; cơ chế đấu thầu riêng, hợp đồng mua bán điện cho các dự án điện mặt trời. Đồng thời, trình Chính phủ xem xét điều chỉnh Quyết định số 11 để giải quyết những vấn đề liên quan đến thuế cho các dự án điện mặt trời lắp mái.

    • Phát triển năng lượng tái tạo: Tiềm năng lớn, thách thức cũng không nhỏ

      Tiềm năng lớn

      Đánh giá về tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) tại Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho biết: Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, số giờ nắng bình quân trong năm từ 2.500 - 3.000 giờ với nhiệt độ bình quân năm trên 21 độ C. Ngoài ra, Việt Nam có tiềm năng lớn về các dạng NLTT khác như gió, sinh khối... Đây là những nguồn năng lượng sạch, quý giá, cần được khai thác một cách hợp lý, hiệu quả.

      Riêng về tiềm năng điện gió, theo ông Nguyễn Văn Vy - Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, với công nghệ hiện đại, chỉ cần tốc độ gió từ 5m/s trở lên, tua bin đã có thể phát điện. Ước tính, điện gió trên đất liền của Việt Nam có thể tạo ra khoảng 40-50 nghìn MW, nếu cộng thêm tiềm năng điện gió từ ngoài khơi, Việt Nam có thể phát triển khoảng trên 100 nghìn MW. 

      Còn với năng lượng mặt trời (NLMT), Việt Nam có thể lắp đặt các tấm pin NLMT ở nhiều vùng khác nhau như trên bờ biển, trên hồ nước, đồng bằng, rừng núi, trên mái nhà… Nếu tính trung bình, cứ khoảng 1 ha thu được 1 MW điện mặt trời, Việt Nam có thể sản xuất ra hàng chục ngàn MW công suất từ bức xạ NLMT.

      Hệ thống điện mặt trời trên mái nhà của Tổng công ty Điện lực TP.HCM

      Thách thức phía trước

      Ông Ngô Sơn Hải - Phó Tổng giám đốc EVN cho rằng, để phát triển điện năng một cách hiệu quả, bền vững, EVN hoàn toàn ủng hộ chủ trương đẩy mạnh phát triển NLTT, phù hợp với quy hoạch. Ưu tiên phát triển NLTT sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ nguồn tài nguyên năng lượng, giảm tác động tiêu cực đến môi trường trong sản xuất điện. Tuy nhiên, khi có sự tham gia của NLTT, thiết kế hệ thống truyền tải và phân phối điện cũng sẽ phải điều chỉnh so với thiết kế truyền thống.

      Tại Việt Nam, do nhu cầu sử dụng điện rất lớn, việc đẩy nhanh phát triển NLTT cũng cần phải lưu ý đến một số vấn đề như: Sự không ổn định của công suất phát vì phụ thuộc vào thời tiết (tốc độ gió, bức xạ mặt trời…). Để đảm bảo hệ thống điện vận hành ổn định, cần phải tính đến công suất dự phòng, bù đắp lượng công suất thiếu hụt khi nguồn NLTT không phát điện được. Các nguồn điện gió và điện mặt trời không có khả năng điều chỉnh điện áp nếu như không có các qui định chặt chẽ bắt buộc phải đầu tư các thiết bị bảo vệ trước khi nối lưới.

      Cũng theo ông Ngô Sơn Hải, hiện nay, các nguồn điện đang vận hành theo cơ chế thị trường phát điện cạnh tranh. Dự kiến năm 2019, sẽ hình thành thị trường bán buôn điện cạnh trạnh. Tuy nhiên, vẫn chưa có cơ chế phù hợp cho NLTT hoạt động trong thị trường điện. Để khắc phục những bất cập trên, EVN đề nghị các cơ quan chức năng sớm phê duyệt các Quy hoạch về phát triển nguồn điện NLTT cấp tỉnh, cấp quốc gia. Các dự án NLTT khi xem xét cần đảm bảo sự phát triển đồng bộ giữa nguồn và lưới điện, đảm bảo khả năng vận hành an toàn, kinh tế của hệ thống điện và hiệu quả đầu tư chung của xã hội...

      Ông Nguyễn Văn Vy - Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cũng kiến nghị, Nhà nước cần xây dựng chính sách đồng bộ, ổn định, lâu dài cho phát triển NLTT, tăng độ tin cậy cho các nhà đầu tư. Đồng thời xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong quá trình thiết kế, đầu tư xây dựng và quản lý khai thác vận hành các công trình nguồn điện từ NLTT; các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho lưới điện đồng bộ với các nguồn điện sử dụng NLTT và các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các công trình, thiết bị khác liên quan đến NLTT, áp dụng thống nhất trong toàn quốc.

  • Thủ tục mua bán điện